Giữa không gian đô thị hiện đại của phường Hòa Cường, Đình Nại Nam vẫn lưu giữ dáng vẻ cổ kính của một ngôi đình làng truyền thống hơn một thế kỷ tuổi. Được xây dựng vào năm Ất Tỵ (1905), công trình không chỉ mang những dấu ấn tiêu biểu của kiến trúc thời Nguyễn mà còn gắn bó sâu sắc với đời sống tín ngưỡng, sinh hoạt cộng đồng và lịch sử đấu tranh cách mạng của người dân địa phương.
Đình Nại Nam là một trong những ngôi đình làng cổ tiêu biểu còn được gìn giữ khá nguyên vẹn trong khu vực nội thành Đà Nẵng. Với những giá trị nổi bật về kiến trúc, nghệ thuật và lịch sử, đình được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là di tích quốc gia vào ngày 04/01/1999.

TỪ LÀNG NẠI HIÊN ĐẾN ĐÌNH NẠI NAM
Đình Nại Nam được xây dựng vào năm Ất Tỵ (1905), từ sự đóng góp công sức và tiền của của người dân cùng những vị chức sắc trong làng như Nguyễn Văn Cửu, Nguyễn Bậc, Nguyễn Văn Thanh và Bùi Văn Đắc.
Sự ra đời của đình gắn với quá trình hình thành làng Nại Nam. Trước kia, địa bàn Nại Hiên khá rộng, bao gồm Nại Hiên Đông, Nại Hiên Tây và Nại Nam. Khi Nại Nam được tách thành một làng riêng, người dân đã cùng nhau xây dựng ngôi đình để làm nơi thờ Thành hoàng, Bổn xứ Thổ thần, các bậc tiền nhân và vọng thờ những chư phái tộc có công khai khẩn, tạo lập cộng đồng làng xã.
Từ đó, Đình Nại Nam trở thành một không gian quan trọng trong đời sống của cư dân địa phương, vừa là nơi thực hành tín ngưỡng, vừa là địa điểm để người dân gặp gỡ, bàn việc làng và duy trì những phong tục truyền thống qua nhiều thế hệ.
Trong những biến chuyển về địa giới hành chính, tên gọi Đình Nại Nam vẫn được cộng đồng gìn giữ. Khoảng năm 1946, Nại Nam thuộc làng Hòa Bình, huyện Hòa Vang. Đến năm 1949, làng Hòa Bình sáp nhập vào thành phố Đà Nẵng và đổi thành khu Nam, gồm Nại Nam, Khuê Trung và một phần Liên Trì. Dù tên gọi hành chính thay đổi qua từng thời kỳ, người dân địa phương vẫn quen thuộc và gắn bó với tên gọi Đình Nại Nam cho đến ngày nay.



DẤU ẤN KIẾN TRÚC ĐẦU THẾ KỶ XX
Được xây dựng vào những năm đầu thế kỷ XX, Đình Nại Nam mang đậm đặc trưng kiến trúc và nghệ thuật trang trí thời Nguyễn.
Khuôn viên đình có diện tích hơn 4.700m². Ngôi đình quay mặt về hướng Nam – hướng được xem là mang lại vượng khí theo quan niệm dân gian. Nhìn từ ngoài vào, các hạng mục chính gồm nghi môn, bình phong, khoảng sân rộng và đình chính, được bố trí nối tiếp trên một trục trung tâm, tạo chiều sâu và vẻ trang nghiêm cho không gian thờ tự.
Nghi môn được tạo thành từ bốn trụ biểu. Hai trụ phía ngoài kết nối với tường bao, trên đỉnh trang trí hình búp sen. Hai trụ chính giữa cao hơn, tạo thành lối vào đình và được trang trí hình nghê bằng kỹ thuật khảm sứ. Trên thân trụ còn lưu lại câu đối Hán Nôm:
Môn ngoại vãng lai phong thủy tú
Trường giang đại hải phát vinh quang
Có thể hiểu là:
Ngoài cửa khách ngắm phong cảnh đẹp
Sông dài biển rộng phát vinh quang.
Qua nghi môn là bình phong đặt ngay trên trục chính. Bình phong có hình dáng như một cuốn thư, phía dưới tạo chân quỳ. Mặt ngoài đắp nổi hình hổ vàng với ý nghĩa cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, cuộc sống ấm no; hai bên là chữ “Thọ” cách điệu. Mặt trong được trang trí hình “Long mã phù Hà đồ” bằng kỹ thuật khảm sứ, tiếp tục kết hợp với các họa tiết chữ Thọ.
Sự hiện diện của bình phong không chỉ tạo điểm nhấn cho tổng thể kiến trúc mà còn thể hiện những quan niệm truyền thống về phong thủy và không gian linh thiêng của đình làng Việt.
MÁI NGÓI ÂM DƯƠNG VÀ NGHỆ THUẬT CHẠM KHẮC TINH XẢO
Đình được xây dựng chủ yếu từ gạch, ngói, vôi, cát và gỗ. Mái lợp ngói âm dương, các bờ nóc, bờ dải và gờ mái được trang trí bằng nhiều đồ án truyền thống như lưỡng long chầu nguyệt, phượng, lân cùng các họa tiết đắp ghép sành sứ.
Nổi bật trên mặt đứng là hai lầu chiêng và gác trống được tạo dáng theo kiểu giả lâu, nhô cao hơn phần mái chính. Trên nóc xuất hiện hình tượng con dơi cùng các họa tiết hồi văn. Trong quan niệm Á Đông, chữ “dơi” có âm đọc gần với chữ “phúc”, vì vậy hình tượng này thường được sử dụng như biểu trưng của phúc lành, may mắn và thịnh vượng.
Diềm mái của đình được chia thành các ô trang trí, bên trong thể hiện hoa lá cách điệu, kết hợp với hồi văn và chữ Vạn. Những chi tiết này tạo nên lớp trang trí phong phú nhưng vẫn hài hòa với tổng thể kiến trúc.
Đình được xây dựng theo kiểu truyền thống ba gian hai chái và có bố cục dạng chữ Đinh (丁), gồm chính điện phía trước và hậu tẩm nối dài về phía sau gian giữa theo hình thức thường được gọi là “chuôi vồ”.
Bên trong là hệ thống kết cấu gỗ chắc chắn với bốn hàng cột. Hai hàng cột chính giữa nâng đỡ phần mái, liên kết với hệ thống xuyên, trính và bộ kèo; phía trên sử dụng trụ đội để hỗ trợ kết cấu mái. Phần vì kèo chính được thực hiện theo lối quá giang, trong khi vì nách sử dụng kỹ thuật chồng rường.
Các cấu kiện gỗ được liên kết theo kỹ thuật mộng truyền thống. Trên đuôi kèo, con rường, vì nách và nhiều bộ phận kiến trúc khác là các hình chạm rồng, hoa lá, cây cối, chim muông, mai, tùng, hươu cùng nhiều đề tài trang trí truyền thống.
Sự kết hợp giữa kỹ thuật kết cấu, chạm khắc gỗ và nghệ thuật đắp ghép sành sứ đã tạo nên vẻ đẹp riêng cho Đình Nại Nam. Sau hơn một thế kỷ, nhiều chi tiết vẫn được bảo tồn, giúp người xem hình dung rõ hơn về kỹ nghệ xây dựng và thẩm mỹ của người xưa.

KHÔNG GIAN THỜ TỰ VÀ NHỮNG DẤU TÍCH HÁN NÔM
Không gian bên trong đình được phân chia trang nghiêm theo từng khu vực thờ tự.
Chính điện có ba ban thờ, trong đó ban thờ Hội đồng nằm ở gian giữa và hai ban thờ bố trí hai bên tả – hữu. Phía sau là hậu tẩm với ban thờ chính dành cho Thành hoàng làng cùng các ban thờ Tiền hiền, Hậu hiền.
Khám thờ chính giữa nổi bật với chữ “Thần” khảm sứ. Bệ thờ được trang trí đồ án “Ngư long hý thủy” – hình tượng cá và rồng trong nước. Các khám thờ khác sử dụng nhiều mô típ quen thuộc như cuốn thư, rồng cuộn, tứ linh, tứ quý, bát bảo và bát quả.
Một trong những giá trị đặc biệt còn được lưu giữ tại đình là hệ thống hoành phi, liễn đối và văn tự Hán Nôm.
Trong đó có các hoành phi bằng gỗ sơn son thếp vàng với những đại tự như “Vi nhiên hiển”, mang ý nghĩa về sự linh ứng nhiệm màu; “Hộ quốc tí dân”, thể hiện ý nghĩa bảo vệ đất nước, che chở nhân dân; hay “Thành tắc minh”, gửi gắm quan niệm về sự thành thực và sáng suốt.
Các cặp liễn đối bằng gỗ với chữ Hán sơn vàng cũng góp phần làm phong phú không gian thờ tự, đồng thời phản ánh những quan niệm về đạo lý, trung hiếu, phúc thọ, sự bình an và thịnh vượng của cộng đồng cư dân xưa.
Những tư liệu Hán Nôm này không chỉ mang giá trị mỹ thuật mà còn là một nguồn tư liệu giúp kết nối hiện tại với quá khứ, phản ánh đời sống tinh thần, quan niệm đạo đức và cách tổ chức xã hội của nhiều thế hệ cư dân địa phương.
LỄ CẦU AN – NẾP SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG ĐƯỢC GÌN GIỮ QUA NHIỀU THẾ HỆ
Bên cạnh giá trị kiến trúc, Đình Nại Nam còn là không gian duy trì những sinh hoạt tín ngưỡng truyền thống của cộng đồng.
Trước năm 1975, người dân địa phương thường tổ chức hai dịp lễ quan trọng tại đình, gồm Lễ Cầu an vào rằm tháng Hai âm lịch và lễ vào ngày 30 Tết.
Trong đó, Lễ Cầu an là sinh hoạt tín ngưỡng có ý nghĩa đặc biệt, gửi gắm mong ước về mưa thuận gió hòa, cuộc sống bình yên và quê hương thịnh vượng.
Theo nghi thức truyền thống, trước ngày lễ chính, người dân trong làng cùng họp bàn, phân công công việc, dọn dẹp đình và chuẩn bị không gian tế lễ. Ngày 14 tháng Hai âm lịch, cộng đồng tập trung tại đình để thực hiện nghi thức thỉnh sắc. Sáng ngày 15 tháng Hai âm lịch diễn ra lễ tế chính với các nghi thức cổ truyền.
Không gian lễ tế có nhạc bát âm, văn tế và hệ thống nghi lễ được thực hiện trang trọng. Nội dung văn tế thể hiện mong ước về quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, người dân ấm no và hạnh phúc.
Lễ vật truyền thống thường gồm gà, thịt, trái cây, rượu và trà. Ban nghi lễ được tổ chức theo các vai trò như chủ bái, bồi bái, tư lễ, xướng lễ và học trò gia lễ, với trang phục được quy định phù hợp cho từng vị trí.
Không chỉ mang ý nghĩa tín ngưỡng, Lễ Cầu an còn là dịp người dân gặp gỡ, gắn kết cộng đồng và cùng hướng về những giá trị truyền thống. Qua các nghi thức được gìn giữ từ thế hệ này sang thế hệ khác, đình làng trở thành nơi để người trẻ tìm hiểu về nguồn cội, phong tục và những nét văn hóa đặc trưng của quê hương.
Ngày nay, các hoạt động lễ hội tại Đình Nại Nam tiếp tục được địa phương quan tâm tổ chức, kết hợp các nghi lễ truyền thống với hoạt động cộng đồng, giáo dục di sản và giới thiệu văn hóa địa phương.
MỘT “CHỨNG NHÂN” CỦA LỊCH SỬ CÁCH MẠNG ĐÀ NẴNG
Giá trị của Đình Nại Nam không chỉ nằm ở kiến trúc hay tín ngưỡng.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đình từng là địa điểm hoạt động cách mạng của cán bộ và nhân dân địa phương, chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng.
Năm 1949, một buổi kết nạp đảng viên được tổ chức tại đình dưới sự phụ trách của đồng chí Phạm Dư, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến làng Hòa Bình.
Đêm 01/5/1950, tại đây tiếp tục diễn ra một buổi kết nạp đảng viên và thành lập chi bộ Đảng phường I thuộc Đảng bộ Khu Nam. Đồng chí Bùi Đương được bầu làm Bí thư, đồng chí Nguyễn Can làm Phó Bí thư.
Khi buổi lễ gần kết thúc, lực lượng đối phương phát hiện và bao vây. Đồng chí Lê Văn Lùm hy sinh tại chỗ, đồng chí Bùi Đương và Nguyễn Thị Chuyên bị thương. Sau sự kiện này, nhiều nhà dân quanh đình bị đốt phá, nhưng hoạt động cách mạng tại địa phương vẫn tiếp tục được duy trì bí mật.
Trong những năm sau đó, Đình Nại Nam tiếp tục là nơi tập hợp, triển khai các hoạt động đấu tranh chính trị của người dân, chống bắt lính và tổ chức các hoạt động kỷ niệm những ngày lễ lớn.
Không gian đình cũng từng được sử dụng để triển khai lực lượng phục vụ các hoạt động quân sự hướng vào khu vực trung tâm Đà Nẵng trong những năm 1950–1951.
Bước sang thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, vai trò của đình tiếp tục được duy trì. Giai đoạn 1960–1965, nơi đây từng được sử dụng làm địa điểm giao liên, liên lạc. Đến năm 1968, cán bộ và nhân dân địa phương tiếp tục xây dựng các hầm bí mật để phục vụ hoạt động cách mạng. Những hoạt động này kéo dài cho đến năm 1975.
Nhiều người từng tham gia hoạt động cách mạng gắn với khu vực Đình Nại Nam sau đó đã hy sinh, trong đó có những tên tuổi được lưu lại như Bùi Đương, Phạm Nhứt, Lê Văn Lùm, Đặng Thị Mỳ và nhiều cán bộ, người dân khác.
Ngày nay, trong khuôn viên đình còn có nhà bia tưởng niệm nằm bên trái đình chính. Bên trong đặt bia đá ghi danh các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh tại Đình Nại Nam và của địa phương, tạo nên một không gian tưởng niệm bên cạnh khu vực thờ tự truyền thống.
Chính lớp ký ức lịch sử này khiến Đình Nại Nam mang một giá trị đặc biệt: vừa là mái đình gắn với đời sống làng xã, vừa là nơi lưu giữ câu chuyện về những giai đoạn đấu tranh của người dân Đà Nẵng trong thế kỷ XX.
GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC, LỊCH SỬ VÀ VĂN HÓA ĐAN XEN
Qua hơn một thế kỷ tồn tại, Đình Nại Nam hội tụ nhiều lớp giá trị.
Về kiến trúc – nghệ thuật, đình giúp lưu giữ một mẫu hình tương đối tiêu biểu của kiến trúc đình làng đầu thế kỷ XX, từ bố cục ba gian hai chái, mái ngói âm dương, hệ thống kết cấu gỗ cho đến nghệ thuật chạm khắc, khảm sứ và trang trí bằng những đề tài truyền thống.
Những hình tượng như lưỡng long chầu nguyệt, phượng, lân, dơi, hoa lá, chim muông cùng các hoa văn cách điệu được thể hiện trên mái, bình phong và các cấu kiện gỗ vừa tạo giá trị thẩm mỹ, vừa phản ánh thế giới quan và những ước vọng tốt đẹp của người xưa.
Về lịch sử, đình là một trong những công trình gắn với quá trình hình thành cộng đồng Nại Nam, đồng thời là địa điểm ghi dấu nhiều hoạt động cách mạng trong hai cuộc kháng chiến.
Về văn hóa, những nghi thức tế lễ, tín ngưỡng thờ Thành hoàng, Tiền hiền, Hậu hiền cùng hệ thống hoành phi, liễn đối Hán Nôm là nguồn tư liệu quý để tìm hiểu đời sống tinh thần và tổ chức cộng đồng làng xã truyền thống.
Chính sự đan xen giữa kiến trúc, tín ngưỡng, lịch sử và ký ức cộng đồng đã tạo nên giá trị riêng của Đình Nại Nam trong hệ thống di sản văn hóa Đà Nẵng.
HÀNH TRÌNH BẢO TỒN NGÔI ĐÌNH HƠN MỘT THẾ KỶ
Để có được diện mạo tương đối nguyên vẹn như hiện nay, Đình Nại Nam đã trải qua nhiều lần sửa chữa và trùng tu.
Năm 1965, người dân địa phương cùng đóng góp công sức và kinh phí để sửa chữa đình. Công trình được nâng nền, gia cố chân cột, thay thế một số cấu kiện bị hư hỏng và tu sửa các khu vực xuống cấp.
Giai đoạn 1993–1994, đình tiếp tục được chỉnh trang với việc xây dựng lại tường rào, làm lại hệ thống cửa chính bằng gỗ, lát lại một số khu vực bên trong và cải tạo sân.
Năm 2002 diễn ra một đợt đại trùng tu, trong đó công trình được sửa chữa tổng thể và nâng cốt nền để phù hợp với cao độ mặt đường xung quanh.
Đến năm 2013, Đình Nại Nam tiếp tục được trùng tu nhằm bảo tồn và duy trì giá trị của công trình.
Qua các lần tu bổ, những thành phần kiến trúc và nghệ thuật quan trọng của đình tiếp tục được gìn giữ. Đây cũng là cơ sở để ngôi đình duy trì vai trò là không gian tín ngưỡng, văn hóa và giáo dục truyền thống trong đời sống đô thị ngày nay.
TRẢI NGHIỆM THAM QUAN ĐÌNH NẠI NAM
Nếu nhiều di tích nằm trong những quần thể du lịch lớn mang đến cảm giác nhộn nhịp, Đình Nại Nam lại cho du khách một cách tiếp cận khác với Đà Nẵng – chậm hơn và gần hơn với ký ức của những cộng đồng cư dân đã hình thành nên thành phố.
Ngay từ cổng đình, du khách có thể quan sát hệ thống trụ biểu, bình phong và nghệ thuật khảm sứ truyền thống. Đi sâu vào bên trong là mái ngói âm dương, lầu chiêng, gác trống, những cấu kiện gỗ được chạm khắc công phu cùng hệ thống hoành phi, liễn đối Hán Nôm.
Đây cũng là nơi phù hợp để tìm hiểu cấu trúc của một ngôi đình làng miền Trung, từ không gian sân đình, chính điện, hậu tẩm đến các ban thờ Thành hoàng, Tiền hiền và Hậu hiền.
Bên cạnh vẻ đẹp kiến trúc, nhà bia tưởng niệm trong khuôn viên mở thêm một lớp câu chuyện về lịch sử địa phương, giúp chuyến tham quan không dừng lại ở việc ngắm nhìn một công trình cổ mà còn là cơ hội tìm hiểu về những con người và sự kiện từng gắn bó với vùng đất Nại Nam.
Nếu có dịp ghé đình vào thời gian tổ chức Lễ Cầu an, du khách còn có cơ hội cảm nhận rõ hơn vai trò của ngôi đình trong đời sống cộng đồng – nơi những nghi lễ truyền thống, sự tri ân tiền nhân và tinh thần gắn kết làng xóm vẫn tiếp tục được trao truyền.

THÔNG TIN CẦN BIẾT
- Tên di tích: Đình Nại Nam.
- Vị trí: Phường Hòa Cường, thành phố Đà Nẵng; khu vực gần Cung Thể thao Tiên Sơn.
- Loại hình: Di tích kiến trúc – nghệ thuật.
- Năm xây dựng: Ất Tỵ (1905).
- Xếp hạng: Di tích quốc gia, ngày 04/01/1999.
- Lễ hội truyền thống: Lễ Cầu an, chính lễ vào ngày 15 tháng Hai âm lịch.
- Điểm nổi bật: Kiến trúc đình làng đầu thế kỷ XX; mái ngói âm dương; nghệ thuật chạm khắc gỗ và khảm sành sứ; hệ thống hoành phi, liễn đối Hán Nôm; không gian tín ngưỡng truyền thống; dấu tích lịch sử cách mạng.
- Lưu ý khi tham quan: Đây là không gian tín ngưỡng và di tích lịch sử, du khách nên lựa chọn trang phục phù hợp, giữ không gian yên tĩnh và tôn trọng các khu vực thờ tự.
Giữa một Đà Nẵng không ngừng chuyển mình, Đình Nại Nam vẫn hiện diện như một phần ký ức của làng xưa giữa lòng đô thị. Từ mái ngói âm dương, những đường chạm khắc trên gỗ, câu đối Hán Nôm đến Lễ Cầu an được gìn giữ qua nhiều thế hệ, mỗi lớp không gian nơi đây đều kể một câu chuyện về cộng đồng, về lịch sử và về cách người Đà Nẵng trân trọng những giá trị được trao truyền từ cha ông.
Ghé Đình Nại Nam vì thế không chỉ là hành trình khám phá một công trình kiến trúc hơn trăm năm tuổi, mà còn là dịp chạm gần hơn vào một lớp văn hóa bản địa vẫn đang hiện hữu trong đời sống của thành phố hôm nay.
TRUNG TÂM XÚC TIẾN DU LỊCH THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG







