Lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn là một trong những lễ hội văn hóa – tâm linh tiêu biểu của Đà Nẵng, gắn với Chùa Quán Thế Âm và Di tích quốc gia đặc biệt Danh thắng Ngũ Hành Sơn. Từ một sinh hoạt tín ngưỡng hình thành vào năm 1956, lễ hội từng bước phát triển, trở thành Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và là điểm hẹn thường niên của đồng bào Phật tử, người dân và du khách thập phương.
- Địa điểm: Chùa Quán Thế Âm, số 48 đường Sư Vạn Hạnh, phường Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng và các địa điểm liên quan tại Di tích quốc gia đặc biệt Danh thắng Ngũ Hành Sơn.
- Thời gian: Lễ hội thường được tổ chức vào khoảng ngày 17 đến 20 tháng 2 âm lịch, trong đó ngày 19/2 âm lịch là ngày chính lễ – Lễ vía Đức Bồ Tát Quán Thế Âm. Thời gian cụ thể và số ngày tổ chức có thể được điều chỉnh theo chương trình từng năm.

TÍN NGƯỠNG QUÁN THẾ ÂM Ở NGŨ HÀNH SƠN VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA LỄ HỘI
Ngũ Hành Sơn từ lâu được xem là vùng đất linh thiêng, gắn liền với sự hình thành và phát triển của Phật giáo tại Đà Nẵng. Trong đời sống tín ngưỡng của cư dân nơi đây, đặc biệt là cộng đồng ngư dân, hình ảnh Đức Quán Thế Âm Bồ Tát đã trở thành biểu tượng gần gũi, hiện hữu trong tâm thức dân gian. Người dân tin tưởng rằng Ngài là đấng từ bi, luôn lắng nghe, che chở và cứu độ chúng sinh, nhất là những người làm nghề biển với khát vọng “mưa thuận gió hòa, sóng yên biển lặng”.

Niềm tin ấy càng được củng cố khi tại động Quan Âm ở núi Kim Sơn, một pho tượng Quán Thế Âm bằng thạch nhũ thiên tạo được phát hiện, mang vẻ đẹp huyền ảo và kỳ bí. Từ đây, chùa Quán Thế Âm được xây dựng, trở thành nơi hội tụ tâm linh của Phật tử và nhân dân. Vào ngày 19/2 âm lịch năm 1956, nhân lễ khánh thành chùa, Hòa thượng Thích Pháp Nhãn đã tổ chức Ngày hội Quan Âm đầu tiên, đánh dấu mốc khởi nguồn của Lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn.
Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, lễ hội ngày càng được mở rộng quy mô, đặc biệt từ năm 1991 được tổ chức thường niên trong ba ngày 17, 18, 19 tháng 2 âm lịch. Năm 2000, Lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn được công nhận là một trong 15 lễ hội lớn cấp quốc gia. Đến nay, lễ hội đã trở thành sự kiện văn hóa – tâm linh đặc sắc, thu hút đông đảo Phật tử, nhân dân và du khách trong nước lẫn quốc tế, góp phần khẳng định bản sắc văn hóa đặc trưng của thành phố Đà Nẵng.
CÁC NGHI THỨC TRUYỀN THỐNG TRONG PHẦN LỄ
Lễ hội gồm các nghi lễ: Lễ khai kinh, thượng phan – thượng kỳ; Lễ rước ánh sáng; Lễ pháp đàn Quán Thế Âm, thuyết giảng Đạo pháp và tổ chức các khóa tu tập; Chính lễ (Lễ vía Đức Phật Quán Thế Âm Bồ Tát; Lễ rước tôn tượng Quán Thế Âm Bồ Tát; Lễ hóa trang Quán Thế Âm Bồ Tát và cuối cùng Lễ tạ pháp đàn hoa đăng). Đan xen với các nghi lễ Phật giáo còn có nghi lễ truyền thống của nhân dân địa phương như: Lễ tế Xuân; Lễ dâng hương tưởng niệm Huyền Trân công chúa và Lễ tế Thạch nghệ Tổ Sư nghề điêu khắc đá Non Nước Ngũ Hành Sơn.
– Lễ khai kinh, thượng phan – thượng kỳ tổ chức ngày 17 để dâng lên mười phương chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thiện Thần đồng thùy từ chứng minh gia hộ, nguyện cầu mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an. Nghi lễ do vị chủ Sám (chủ lễ – một vị hòa thượng) thực hiện.
– Lễ rước ánh sáng (Lễ rước đuốc) tổ chức tối 18. Tùy theo quy mô mà nghi thức lễ rước có thể lồng vào trong lễ rước kiệu hóa trang Quan Âm và đi qua các cung đường dẫn đến bờ sông Cổ Cò để thả hoa đăng. Đoàn rước lên đến hàng trăm người (là Chư Tăng, Phật tử, Đạo tràng và Thập phương thiện tín), đi thành hàng đôi, ở giữa là kiệu, dàn rước hoa, dàn nhạc, đội lân – sư tử – rồng và các hóa trang khác. Lễ rước ánh sáng để cầu mong ánh sáng soi đường cho chúng sinh, trí tuệ sáng thì tấm lòng, đạo đức trong sáng, sẽ làm nhiều việc thiện.
– Lễ thuyết giảng đạo pháp Quán Thế Âm và dân tộc tổ chức xuyên suốt trong thời gian 3 ngày của lễ hội, nhưng quy mô nhất là vào tối ngày 18 và chiều ngày 19. Đối tượng tham dự pháp đàn, ngoại trừ các đạo tràng tại lễ hội, còn có sự tham dự của Phật tử và Thập phương thiện tín, từ già đến trẻ và không phân biệt giới tính, con số lên đến hàng chục nghìn người, tất cả đều có thể tham dự, lắng nghe. Nội dung bài thuyết giảng: về giáo lý Phật giáo; hoặc ngợi ca lòng từ bi bác ái, hạnh nguyện, sự linh ứng của Đức Phật Bồ Tát Quán Thế Âm; hay cách chắp tay, lễ lạy, phương pháp niệm Phật cho những Phật tử lần đầu tham dự khóa tu; hoặc là chia sẻ những lời Phật dạy, về những tổn thất tinh thần và vật chất mà chúng ta thường gặp trong đời sống hằng ngày… Sau buổi thuyết giảng là chương trình Pháp đàn trì niệm kinh chú cho những người hiện diện trong đêm lễ hội.
– Chính lễ – Lễ Vía Đức Phật Quán Thế Âm tổ chức vào ngày 19, nhằm ngày khánh đản (ngày sinh) của Đức Phật Quán Thế Âm. Nghi lễ này được xem là linh hồn của Lễ hội Quán Thế Âm. Chính lễ tổ chức long trọng, thu hút hàng chục vạn đồng bào các giới, Vị Hòa thượng có chức danh lớn nhất trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam được mời về để chủ trì nghi lễ. Chủ lễ niệm hương và dâng hương, cầu kinh tưởng niệm ân đức của Đức Phật Quán Thế Âm, nhằm nguyện cầu quốc thái dân an, chúng sanh an lạc.




– Lễ rước tôn tượng Đức Phật Quán Thế Âm thực hiện sau Lễ vía, thể hiện lòng tôn kính của các Phật tử hướng về Đức Phật Quán Thế Âm trong ngày khánh đản của Ngài. Tôn tượng của Ngài được rước từ trong động Quan Âm ở núi Kim Sơn đi ra đường Sư Vạn Hạnh, rước lên chùa Quán Thế Âm để làm lễ theo nghi lễ Phật giáo. Sau khi thực hiện xong các nghi lễ ở chùa, kiệu được khiêng từ chùa xuống chiếc thuyền đậu trên sông Cầu Biện và chạy vòng quanh sông Cổ Cò, nhằm cầu nguyện cho đồng bào, chúng sinh đi biển, làm ăn trên sông nước được thuận lợi, bình an.

– Lễ hóa trang Bồ Tát Quán Thế Âm thực hiện song hành với nghi lễ rước tôn tượng Đức Phật Quán Thế Âm. Để hóa trang tái hiện hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm, mỗi năm nhà chùa sẽ chọn một trong 32 ứng hóa của Bồ Tát Quán Thế Âm để hóa thân. Chẳng hạn, hóa trang tái hiện thành Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, Thập nhất diện Quan Âm, Quán Âm Thiện Tài Đồng Tử, Bạch Y Quan Âm, Quán Âm Tống Tử, Quán Âm Nam Hải… Phật tử được chọn để hóa trang và hóa thân thành Bồ Tát Quán Thế Âm là một nữ phật tử với gương mặt đoan trang, phúc hậu, có học vấn, văn hóa, phẩm chất đạo đức tốt, là con của gia đình Phật tử thuần thành và nữ Phật tử đó phải thường xuyên đến chùa.
Trước khi lễ hội diễn ra, khoảng 6 đến 8 tháng nữ Phật tử này được vị trụ trì chùa Quán Thế Âm giảng dạy về hạnh nguyện của Quán Thế Âm Bồ Tát, tập ngồi thiền, tập từng bước đi, cử chỉ, tính trang nghiêm của hình tướng Quán Thế Âm và thực hiện ăn chay 3 tháng trước khi nhập vai. Đồng thời, chọn may trang phục phù hợp theo ý nghĩa hóa trang. Sự hóa trang mong muốn tái hiện lại hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm tại lễ hội, để cho chúng sinh có dịp được chiêm ngưỡng sự đức độ, từ bi của Ngài, và ngụ ý rằng Ngài là vị Bồ Tát luôn đồng hành với chúng sanh mọi lúc mọi nơi, đặc biệt luôn đem hạnh nguyện từ bi, ban vui cứu khổ của mình tỏa khắp nhân loại. Ngoài việc hóa trang Quán Thế Âm Bồ Tát, tại lễ hội còn có những hóa trang thành các Tiểu đồng, các vị Bồ Tát khác và các Tiên nữ cùng Tứ Thiên Vương theo hầu, đều do gia đình Phật tử chùa Quán Thế Âm thực hiện.
– Lễ tạ pháp đàn hoa đăng thực hiện vào tối 19, là nghi lễ Phật giáo cuối cùng tại Lễ hội Quán Thế Âm, để cúng tạ sơn thủy, thổ thần và các thần linh đã phù hộ cho lễ hội thành công. Sau khi cúng tạ xong, những ngọn nến lồng vào hoa sen được thả xuống dòng sông, gửi lời cầu nguyện cho ánh sáng trí tuệ được trường tồn như dòng nước.
Đan xen với các nghi lễ Phật giáo, người dân địa phương tổ chức các nghi lễ dân gian như: Lễ dâng hương tưởng niệm tại miếu thờ Huyền Trân công chúa, Lễ tế Xuân (tại chùa Quán Thế Âm) và Lễ tế Thạch Nghệ Tổ Sư nghề đá Non Nước (tại Nhà thờ tổ nghề đá nằm dưới chân núi Mộc Sơn). Bên cạnh đó là các hoạt động giải trí cũng được tổ chức như: hô hát Bài chòi, hò khoan đối đáp, hát dân ca, hát Tuồng; các hội thi, trình diễn thư pháp và triển lãm tranh, ảnh thủy mạc; đến các hoạt động văn hóa văn nghệ; các trò chơi dân gian như múa lân, sư tử, rồng, đẩy gậy, kéo co, đua thuyền, cờ tướng…
LỄ HỘI QUÁN THẾ ÂM NGŨ HÀNH SƠN QUA NHỮNG MÙA GẦN ĐÂY
rải qua nhiều giai đoạn phát triển, Lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn ngày càng được mở rộng về quy mô và nội dung, đồng thời tiếp tục gìn giữ Lễ vía Đức Bồ Tát Quán Thế Âm cùng các nghi thức truyền thống làm hạt nhân.
Đặc biệt, từ năm 2023, lễ hội bước sang một giai đoạn phát triển mới khi được tổ chức với quy mô cấp thành phố. Những mùa lễ hội gần đây tiếp tục bổ sung nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật, giao lưu quốc tế, trải nghiệm cộng đồng và ứng dụng công nghệ, tạo thêm những cách tiếp cận mới đối với di sản.
Lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn 2023 – Mùa hội trở lại
Sau thời gian gián đoạn, lễ hội trở lại trong năm 2023 và lần đầu được tổ chức với quy mô cấp thành phố. Mùa hội tạo dấu ấn với Lễ vía Đức Bồ Tát Quán Thế Âm, giao lưu văn hóa quốc tế, Di sản tư liệu Ma Nhai, Thư viện Vạn Hạnh, nghệ thuật đá mỹ nghệ Non Nước, ẩm thực chay cùng nhiều hoạt động cộng đồng.
→ [Khám phá Lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn 2023: Mùa hội trở lại và hành trình lan tỏa giá trị di sản]
Lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn 2024 – Mở rộng không gian văn hóa và nghệ thuật
Với 32 hoạt động, mùa lễ hội 2024 nổi bật với Lễ vía Đức Bồ Tát Quán Thế Âm, đua thuyền trên sông Cổ Cò gắn với câu chuyện Huyền Trân Công chúa, chương trình trực họa – ký họa lần đầu tiên, diễu hành xe hoa và tọa đàm khoa học về nâng tầm giá trị di sản.
Lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn 2025 – Di sản, nghệ thuật Phật giáo và hòa bình
Mùa hội 2025 tiếp tục mở rộng trải nghiệm với Di sản tư liệu Ma Nhai, tuyển tập âm nhạc Phật giáo “Hải Triều Âm”, các chương trình nghệ thuật, đua thuyền, ẩm thực chay và hoạt động Đi bộ vì hòa bình, tạo nên sự giao hòa giữa tín ngưỡng, di sản và đời sống cộng đồng.
Lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn 2026 – Di sản trong nhịp sống đương đại
Năm 2026, lễ hội tiếp tục mở rộng với số hóa chương trình, “Cánh Sen Vàng – Tinh hoa Ẩm thực chay Đà Nẵng”, Đi bộ vì hòa bình, giao lưu văn hóa, nghệ thuật, diễu hành xe hoa cùng nhiều hoạt động dành cho người dân và du khách.
VAI TRÒ VÀ GIÁ TRỊ VĂN HOÁ – DU LỊCH CỦA LỄ HỘI
Diễn ra trong ba ngày, cao điểm vào ngày 19 tháng 2 âm lịch, lễ hội gồm các nghi thức Phật giáo trang trọng như lễ khai kinh, rước ánh sáng, pháp đàn Quán Thế Âm, lễ Vía và rước tôn tượng Bồ Tát, thể hiện rõ tinh thần từ bi, nhân ái của đạo Phật.
Bên cạnh đó, lễ hội còn gắn với truyền thống dân tộc qua các nghi lễ tưởng niệm Huyền Trân công chúa, tế Xuân cầu quốc thái dân an, hay tri ân Thạch Nghệ Tổ Sư nghề đá Non Nước. Phần hội sôi nổi với đua thuyền, trò chơi dân gian, hô hát Bài Chòi, Tuồng, thư pháp, hội trại, trà đạo… tạo nên không gian giao lưu văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.
Với sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố Phật giáo và văn hóa dân gian, lễ hội không chỉ góp phần bảo tồn, phát huy di sản văn hóa truyền thống, mà còn trở thành điểm nhấn thu hút du khách trong và ngoài nước, khẳng định vị thế của Đà Nẵng như một trung tâm văn hóa – du lịch đặc sắc.
Lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 601/QĐ-BVHTTDL ngày 03/02/2021.
TRUNG TÂM XUC TIẾN DU LỊCH ĐÀ NẴNG




